Bệnh thấp khớp triệu chứng nguyên nhân và 4 cách điều trị tối ưu hiện nay

Bệnh thấp khớp có rất nhiều dạng khác nhau và có thể gây nhầm lẫn khi phân biệt giữa các dạng này. Để hiểu rõ hơn bệnh thấp khớp là gì, nó có triệu chứng ra sao, xin xem thêm thông tin trong bài viết này:

Bệnh thấp khớp thường gây đau nhiều hơn mỗi khi trở trời, thời tiết lạnh và độ ẩm cao. Bệnh có thể gây đau âm ỉ kéo dài và đồng thời đi kèm với những triệu chứng khác như kém ăn, mất ngủ hoặc rối loạn tiêu hóa…

Bệnh thấp khớp là gì và nó có liên quan gì đến sốt thấp khớp, thấp khớp cấp?

Bệnh thấp khớp

Bệnh thấp khớp là một quá trình thoái hóa phổ biến nhất là người từ 50 tuổi trở lên

Bệnh thấp khớp là một quá trình thoái hóa các khớp diễn ra từng ngày từng giờ. Độ tuổi phổ biến nhất là người từ 50 tuổi trở lên. Lúc này, xương cốt đã bắt đầu thoái hóa, sức nặng cơ thể trở thành một áp lực ảnh hưởng đến khớp liên đốt sống, khớp gối, khớp háng. Theo thời gian, quá trình thoái hóa càng ảnh hưởng đến sụn khớp, khiến chúng bị bào mòn, mỏng dần, khô đi hoặc vỡ vụn. Kết quả là nó sẽ để lộ những đầu xương, sau nữa là ảnh hưởng đến bao khớp và thậm chí cả dây chằng khớp cũng bị hư hại. Ngoài ra, tại các bờ khớp còn có hiện tượng phì đại xương hình thành nên những gai xương, gây đau đớn dữ dội.

Những người quá cân, béo phì thường dễ mắc chứng thấp khớp hơn. Bên cạnh đó, nữ giới cũng có tỷ lện mắc bệnh thấp khớp cao hơn so với nam giới. Phụ nữ sau khi mãn kinh mắc nhiều hơn nam giới. Nếu là phụ nữ mà còn mắc thêm chứng béo phì thì nguy cơ bị bệnh thấp khớp sẽ tăng gấp 5 lần. Lý do rất dễ hiểu là mạch máu của bị bị co hẹp, rất mắc các bệnh động mạch vành và khiếu máu khó lưu thông.

Sau những thông tin này, chắc hẳn bạn đã hiểu bệnh thấp khớp là gì rồi phải không? Tuy nhiên, có những bệnh thấp khác có thể khiến bạn hiểu lầm.

Sốt thấp khớp (thấp tim)

Độ tuổi thường gặp sốt thấp khớp nhất là trẻ nhỏ từ 5 – 15 tuổi

Sốt thấp khớp là một bệnh viêm. Nó có thể phát triển thành biến chứng của viêm họng nếu không được điều trị kịp thời hoặc không điều trị đến nơi đến chốn. Trong đó có những tổn thương vĩnh viễn đến tim, gây ra bệnh lý về van tim và suy tim. Độ tuổi thường gặp nhất là trẻ nhỏ từ 5 – 15 tuổi, có thể hơn và thường ảnh hưởng đến khi các bé trưởng thành trong độ tuổi khoảng 25 đến 35 tuổi.

Bệnh thấp khớp cấp

Thường vào cuối thu, mùa đông xuân, những lúc tiết trời lạnh, độ ẩm cao thì bệnh thấp khớp cấp có thể xuất hiện. Bệnh có thể bắt đầu từ các trường mẫu giáo, nhà trẻ, trường học… Biểu hiện ban đầu thường là sốt cao, rát họng, mệt mỏi, khó nuốt, ho đờm hoặc ho khan. Một số trường hợp, amidan có thể sưng to, nổi hạch trong vòm miệng. Sau 2 đến 4 tuần từ những triệu chứng viêm họng, một số bé sẽ có biểu hiện viêm khớp cấp do thấp. Các triệu chứng của viêm khớp ở bệnh thấp khớp cấp thường tập trung ở khớp gối, cổ chân, khuỷu tay, cổ tay và xảy ra rất đột ngột với các dấu hiệu: nóng, đỏ, đau và sưng to. Hiếm khi thấy trường hợp viêm khớp đơn lẻ. ít khi gặp viêm một khớp đơn độc. Khớp đau cũng không đối xứng và thường kéo dài từ 3- 5 ngày sẽ tự khỏi.


Các triệu chứng của viêm khớp ở bệnh thấp khớp cấp thường tập trung ở khớp gối, cổ chân, khuỷu tay, cổ tay

Tuy nhiên cũng không ít trường hợp bị biến chứng, ảnh hưởng xấu đến tim, cơ tim dẫn đến bệnh lý tim do thấp, gây suy tim cấp và mạn tính. Đặc biệt phổ biến nhất là các di chứng van tim do thấp như: hẹp hở van hai lá, van ba lá, van động mạch chủ… Ngoài những biến chứng nguy hiểm kể trên, trẻ bị thấp khớp cấp còn rất dễ bị giật, liệt và hôn mê. Nếu đi ngoài cũng có thể bị tiểu ra máu rất nguy hiểm.

Như vậy trong khi bệnh thấp khớp xảy ra ở người già chủ yếu là do lão hóa khớp thì sốt thấp khớp và thấp khớp cấp lại thường xảy ra ở trẻ em và có yếu tố môi trường tác động. Do đó, bạn cần phân biệt những dạng bệnh thấp này để không nhầm lẫn nhé!

Nguyên nhân gây ra bệnh thấp khớp

Có những nguyên nhân sau đây có thể dẫn đến bệnh thấp khớp:

Số người mắc bệnh viêm khớp từ 65 tuổi chiếm đến 1/2 số ca bệnh

Tuổi tác: Theo thống kê, số người mắc bệnh viêm khớp từ 65 tuổi chiếm đến 1/2 số ca bệnh, trong khi đó trong 250 trẻ em chỉ có 1 trẻ bị bệnh này.

Di truyền: Bố mẹ hoặc họ hàng có người bị bệnh thấp khớp thì nguy cơ mắc bệnh sẽ cao hơn.

Giới tính: Nam giới thường mắc bệnh gout cao hơn nữ giới, ngược lại nữ giới lại dễ mắc bệnh viêm khớp hơn nam giới.

Khói thuốc lá: Nguy cơ mắc viêm khớp tăng 21% với những người hút thuốc.

Nghề nghiệp: Nghiên cứu mới nhất tại Thụy Điển cho thấy người làm công việc phải tiếp xúc với xăng dầu sẽ tăng 30% nguy cơ mắc bệnh thấp khớp.

Chế độ ăn: Ăn uống thiếu chất chống ôxy hóa và vitamin, trong khi đó lại quá nhiều chất béo bão hoà cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh khớp.

Triệu chứng bệnh thấp khớp

Muốn biết mình có bị thấp khớp hay không, bạn chỉ cần theo dõi sẽ rõ vì các triệu chứng bệnh thấp khớp khá điển hình. Cụ thể, người bệnh thường hay thấy đau khớp dù trong lúc đang nghỉ nơi. Tại vị trí khớp bị đau luôn thấy sưng và có dịch tiết nằm trong đó. Càng cố vận động thì càng thấy cơn đau tăng dần. Vào mỗi buổi sáng, cảm giác tê cứng chân tay rất rõ. Muốn đi lại phải vận động một lúc mới được. Ngoài ra, còn có thể nghe tiếng kêu răng rắc khi cử động.

Đặc biệt ở bệnh thấp khớp là sẽ thấy trên da xuất hiện những nốt nhỏ, gọi là nốt thấp khi bị viêm khớp dạng thấp

Những lúc viêm khớp còn bị đau và có thể kèm theo các biểu hiện như: mệt mỏi, uể oải, sốt nhẹ, mất cảm giác ngon miệng, sưng khớp nhỏ và đau khớp lớn. Cơn đau và sưng tấy có thể đồng loạt ở các khớp có cùng vị trí như hai chân, hai tay. Bệnh nặng hơn thì có thể xảy ra biến dạng, khớp tê cứng không thể cử động được. Đặc biệt sẽ thấy trên da xuất hiện những nốt nhỏ, gọi là nốt thấp khi bị viêm khớp dạng thấp.

Các phương pháp chữa bệnh thấp khớp

Quá trình điều trị bệnh thấp khớp rất phức tạp. Nhưng có thể hình dung các phương pháp một cách tổng quát như sau:

Dùng thuốc điều trị

Tùy vào mức độ nặng nhẹ và thời gian mắc bệnh, bác sĩ sẽ chỉ định các loại thuốc bao gồm:

Dùng thuốc trị bệnh thấp khớp trong giai đoạn đầu khởi phát bệnh

– Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs): Dùng để giảm đau và viêm. Tác dụng phụ bao gồm: ảnh hưởng đến tim, gan, thận, gây ù tai và kích ứng dạ dày.

– Thuốc corticosteroid: Chẳng hạn như prednisone, có tác dụng kháng viêm, giảm đau và làm chậm sự phá hủy khớp. Tác dụng phụ gồm: bào mỏng xương, gây bệnh tiểu đường và thừa cân.

– Thuốc chống thấp cải thiện bệnh (DMARDs): Bảo vệ khớp và các mô, làm chậm quá trình phá hủy do viêm khớp dạng thấp gây ra. Tác dụng phụ gồm: ảnh hưởng đến gan, gây nhiễm trùng phổi và ức chế tủy xương.

– Tác nhân sinh học: Thường dùng các loại thuốc kích thích phản ứng sinh học như thuốc DMARD sinh học kết hợp với thuốc DMARD không sinh học, chẳng hạn như methotrexate.

Tất cả các loại thuốc này có thể tác dụng nhanh, tác động trực tiếp đến hệ miễn dịch của cơ thể, làm giảm viêm và tránh nhiễm trùng hiệu quả. Tuy nhiên, tác dụng phụ của thuốc cũng rất đáng ngại.

Dùng liệu pháp vật lý

Các bài tập nhẹ nhàng, đúng kỹ thuật có thể giúp người bệnh thấp khớp giảm đau đớn. Đó có thể là yoga, đi bộ hoặc thiền. Những liệu pháp này vừa làm tăng sức khỏe tổng thể vừa giúp các cơ khớp trở nên linh hoạt, dẻo dai hơn.

Phẫu thuật

Khi thuốc và liệu pháp vật lý vẫn không có tác dụng rõ rệt, để phục hồi khớp, có thể phải phẫu thuật. Một số cách phẫu thuật có thể được sử dụng cho bệnh nhân thấp khớp như:

Bác sĩ sau khi xem xét mức độ, tình trạng bệnh sẽ là người đưa ra quyết định phẫu thuật

  • Thay thế khớp: Bỏ khớp cũ đã thoái hóa và đặt khớp nhân tạo vào thay thế.
  • Làm chảy khớp: Mục đích làm chảy khớp để chỉnh hình lại khớp.
  • Sửa chữa dây chằng: Phục hồi lại những dây chằng đã bị tổn thương.

Ngoài những cách trên, người bệnh thấp khớp cần phải chú ý nhiều hơn đến chế độ dinh dưỡng. Vậy bệnh thấp khớp nên ăn gì để chóng hồi phục? Đó có thể là cá, cua, sữa… những thực phẩm giàu canxi và tốt cho xương. Đồng thời nên tránh rượu, bia, thuốc lá và không thức khuya, tránh để lạnh bàn tay, bàn chân.

Dùng các phương pháp Đông y

Ngoài các phương pháp Tây y, Đông y cũng có những bài thuốc trị thấp khớp đem lại hiệu quả cao:

Bài thuốc chữa thấp khớp với lá lốt:

– Bài 1: Lá lốt 20g, gai tầm xoong 16g, thiên niên kiệm 12g. Tất cả vị thuốc đem sắc với 400ml nước, còn 100ml nước, uống ngày 1 thang.-

– Bài 2: Lá lốt 20g, ngải cứu 10g, cỏ xước 20g, cành dâu 20g. Tất cả sao qua, sắc mỗi ngày 1 thang, uống liên tục trong 4 đến 6 ngày.

Bài thuốc chữa thấp khớp với rượu tỏi:

Rượu tỏi chữa bệnh thấp khớp

Tỏi khô 40g đã bóc vỏ, đem thái mỏng và ngâm với rượu gạo 45 độ, 100ml. Sau 15 ngày ngâm, chuyển sang màu vàng nghệ, lắc lọ và uống 2 thìa nhỏ mỗi ngày vào sáng trước khi ăn và tối trước khi ngủ.

Bài thuốc chữa thấp khớp với các vị thuốc quý:

Mỗi vị 20g các loại: ngũ gia bì, ngưu tất, mộc qua, tục đoạn, đỗ trọng, thiên niên kiện, quế chi, hà thủ ô, thổ phục linh; đem ngâm chung trong 2 lít rượu. Sau khoảng 15 ngày đem ra uống, mỗi tối uống 30ml.

Bài thuốc độc hoạt tính:

Đông y là cách chữa được không ít bệnh nhân thấp khớp lựa chọn để điều trị dứt điểm

Độc hoạt 8g, tang ký sinh 24g, tần cửu 16g, phòng phong 8g, tế tân 4g, xuyên khung 8g, đương quy 16g, bạch thược 8g, sinh địa 20g, ngưu tất 8g, đỗ trọng 16g, quế chi 8g, phục linh 16g, đảng sâm 16g, cam thảo 4g. Sắc ngày 1 thang uống hoặc ngâm rượu uống. Bài thuốc có tác dụng khử phong thấp, giảm đau, chữa thấp khớp mãn tính, đau lưng, thoái hóa khớp, các khớp co duỗi khó khăn.

Bài thuốc chữa thấp khớp với lươn:

  • Bài 1: Thịt lươn khoảng 500g, tuốt sạch nhớt, bỏ ruột, thái nhỏ và đem ướp với gừng, tỏi và muối tiêu. Sau đó dùng lá lốt gói lại, nướng hoặc chiên để ăn.
  • Bài 2: Dùng 4 – 6 con lươn loại to trên 500g, làm sạch; rượu trắng vừa đủ trộn với lươn, sau đó hong khô thịt lươn, bỏ nội tạng. Đến khi khô, sấy nghiền thật mịn và cất trong lọ nút kín dùng dần. Mỗi lần uống, hòa 15g với chút rượu trắng, liệu trình 2 tháng.
  • Bài 3: Dùng lươn non 500g, rượu trắng 100ml, ngâm rượu uống ngày 2 lần, mỗi lần 20ml, uống xong súc miệng, liệu trình 1 tháng.

Mong rằng những thông tin về bệnh thấp khớp trên đây đã giúp bạn hiểu ra vấn đề và biết chọn phương pháp chữa trị nào phù hợp nhất nhé!

Hải Yến

View all contributions by

Leave a Comment